Trước khi đọc, đây là một số điều MOINK20 mong bạn đọc lưu tâm:

1/ Đây là blog thể hiện quan điểm cá nhân. Nếu bạn thấy có gì sai sót về mặt kiến thức, tui rất sẵn lòng đón nhận và cải thiện. Nhưng nếu quan điểm của người viết có mâu thuẫn với quan điểm của bạn đọc, xin thông cảm.

2/ Tui không có chụp hình trong bài viết này. Hình 100% là search Google ra.

3/ Review của tui sẽ spoil nhiều. Bạn nào chưa xem phim thì hãy xem đi rồi quay lại coi.

Bây nhiêu đó thôi.

Tại sao tui lại review bộ phim này?

Trong những ngày cuối cùng ở Việt Nam, tụi tui đi xem Song Lang – bộ phim thứ 3 do Ngô Thanh Vân sản xuất, sau Tấm Cám: chuyện chưa kểCô Ba Sài Gòn.

Ngày xưa, tui biết tới cô Vân lần đầu trong bộ phim Dòng máu anh hùng. Tính tới thời điểm hiện tại, đây là phim hành động kiêm lịch sử Việt Nam mà tui thấy hay nhất, và cô Vân cũng trở thành một “đả nữ” của Việt Nam trong mắt tui: chiến đấu hết mình vì nền văn hóa dân tộc, trên bình diện điện ảnh.

Về sau, làm nhà sản xuất, những bộ phim của cô đều gây tiếng vang.

Với Tấm Cám, bài hát Bống bống bang bang đã trở thành bài hát thiếu nhi hay và mới nhất từ thời bé Xuân Mai. Đồng thời, các em được xem một phiên bản điện ảnh của cổ tích nước nhà, thay vì phải chờ Disney như bao năm qua.

Với Cô Ba Sài Gòn, những hình ảnh vintage về một Việt Nam hào nhoáng trước 1975 làm nức lòng giới trẻ, gợi nhắc họ về một nét văn hóa vẫn chưa từng mai một, trên những con đường Sài Gòn ngày nay.

Còn Song Lang thì sao?

Đối với tui, đây là bộ phim hay nhất, buồn nhất, và chỉn chu nhất của cô Vân.

Bộ phim làm tui nhớ lại những câu chuyện mẹ tui kể, về một món ăn tinh thần đang dần mai một ở nơi từng là kinh đô của nó: Cải lương miền Nam.

Song Lang dùng cải lương đã kể chuyện đời – chuyện của những phận người đau khổ

“Ngày xưa, cứ mỗi đêm thứ 6, nhà nào cũng bật tivi hay radio, nghe hát. Nào là Út Trà Ôn, Út Bạch Lan, nào là Phùng Há, Minh Phụng, Mỹ Châu…Chỉ cần nghe người ta ca mấy câu, là ai nấy ôm mặt khóc nức nở.”

Vậy mà người ta vẫn cứ nghe. Nghe rồi lại khóc. Sao kì vậy?

Có lẽ, con người ta có nhu cầu được khóc. Cuộc đời này khổ quá, chèn ép người ta quá. Đổi lại, có mấy ai hiểu người ta đâu? Chỉ có những cung đàn ai oán, những câu hát buồn rứt ruột mới chạm tới tận cùng tâm hồn, để người ta được khóc cho thỏa.

Chắc vì vậy, người xưa mê cải lương.

Song Lang cũng là một vở kịch buồn, xoay quanh hai số phận.

Một gã có ba má đều làm trong gánh cải lương. Má hát, ba đờn. Rồi một ngày má bỏ nhà đi vượt biên. Ba ở nhà, viết nhạc, bài nào bài nấy buồn thê lương. Gã thì chuyển qua hận má, hận nghệ sĩ, hận cả cải lương. Rồi ba chầu trời, gã cù bơ cù bất, dần dần thành lưu manh, chuyên đi đòi nợ mướn.

Gã còn lại, ghiền cải lương. Không nghe ba má, gã bỏ học theo gánh hát, ước mơ được làm kép chánh. Tới ngày gã được xướng ca rồi, thì ba má chết do xe đụng, mãi mãi không biết gã hát hay dở ra sao.

Dũng “Thiên lôi” và Linh Phụng “kép chánh”

Điều mà cả hai gã đều thiếu, là tình yêu.

Gã giang hồ, cả đời chỉ biết có hận thù, trở nên lầm lì, cộc cằn, sống chẳng có ngày nào vui. Gã nghệ sĩ, hát giỏi, nhưng chưa một lần yêu ai, hát chưa một lần thầy khen “ngọt”.

Rồi duyên phận cho hai gã gặp nhau. Tới cuối cùng, họ đều có cái mình cần, nhưng cái giá phải trả thì quá đắt.

Những điều tui thích ở Song Lang

Đầu tiên là cái tên phim. “Song lang” là một loại nhạc cụ dân gian, dùng trong cải lương.

Song lang

Nhưng đồng thời, “song lang” còn có nghĩa là “hai người chồng”, một cách rất ý nhị để ám chỉ tình cảm yêu thương giữa hai người đàn ông. Trong cái bối cảnh của phim – thập niên 80 – Người đồng giới vẫn bị xem là không đứng đắn. Tuy vậy, đạo diễn đã xử lí rất hay, khiến cho khán giả ai cũng thấy rõ tình cảm của họ, nhưng những người xuất hiện trong phim thì không ai biết gì. Một mối duyên tình kín đáo, e lệ.

Điều thứ hai chính là những chi tiết nhỏ nhặt của Sài Gòn xuất hiện xuyên suốt bộ phim.

Hình ảnh chiếc máy may thời xưa được tái hiện sâu sắc trong phim

Tui là người Sài Gòn. Tui yêu những gì thuộc về nó, cả trước đây, cả sau này. Và trong quá trình xem Song Lang:

Tui thấy những xe hủ tiếu đêm.

Tui thấy bọn nhỏ chơi tạt lon.

Tui thấy những chiếc radio phát nhạc xưa như bà ngoại tui từng mở.

Tui thấy những chiếc Honda Cub, giống như chiếc tui vẫn hay xài.

Tui thấy những cái cột chằng chịt dây điện.

Tui thấy Chùa bà Thiên Hậu, Hào Sỹ Phường, và một loạt những con phố người Hoa tui vẫn hay khám phá.

Tui thấy người ta pha cà phê bỏ vô bịch ny-lông uống – ngày nay thì người ta bỏ vô ly nhựa rồi.

Những chi tiết nhỏ nhặt làm tui say đắm Song lang

Và trên hết, tui thấy được cả một thời bao cấp, khi con người ta vẫn hàng ngày tìm cách thích ứng với những khó khăn, nhưng vẫn có những đêm dành cho nghệ thuật, để đi xem hát.

Điều thứ ba, chính là ở tâm lí nhân vật. Nó khá đúng với tâm lí ngoài đời của người miền Nam, cụ thể như sau:

Người miền Nam xưa nay không biểu lộ cảm xúc một cách ồ ạt bao giờ. Lúc nào nhìn người ta cũng im im, lầm lì. Muốn biết người ta có thích, yêu, ghét cái gì, phải để ý kĩ, hoặc hỏi thẳng.

Tiếp theo, người ta dễ cộc. Và khi cộc, họ hay làm liều.

Người con gái miền Nam rất đon đả, dễ thương, giọng “ngọt như mía lùi”, hay đùa giỡn, chọc ghẹo. Bên trong, họ tốt bụng và biết quan tâm đến người khác.

Nhìn chung, những chi tiết ấy được thể hiện rõ trong phim. Nếu bạn đã xem rồi, ắt sẽ đồng tình với tui.

Điều thứ tư, đây là một bộ phim nghiêm túc.

Cần phải nói thẳng, điện ảnh Việt Nam nhiều năm qua bị khán giả “quay lưng” là vì làm việc không nghiêm túc. Chưa bàn về lí do như ít kinh phí, đạo diễn bị chèn ép này nọ, chỉ nhìn vào sản phẩm, ta không thấy gì nhiều ngoài một mớ hổ lốn, hài nhảm thì đầy, diễn viên từ ăn mặc tới diễn xuất, lời thoại, nếu không lố bịch, thì cũng chẳng giống cách nói chuyện ngoài đời tí nào. Rồi đến sau cùng, phim nào cũng trưng ra một “bài học ý nghĩa” cho khán giả “nhồi vào sọ”.

Nhưng xem một bộ phim nghiêm túc như Song Lang thì lại khác.

Từ tông màu chủ đạo xuyên suốt, tới tâm lí, lời thoại nhân vật, tất cả đều thực tế, chỉn chu. Bối cảnh trùng với ý tưởng. Diễn viên thể hiện đúng vai trò của mình, không “bao sân”, cố làm mình nổi bật hơn so với bạn diễn.

Đầu tư tốt về mảng phục trang là điểm cộng cho phim

Điều thứ năm, hơi nhạy cảm, có liên quan một tí tới chính trị.

Có một cảnh phim, loa phường phát một thông điệp nào đó của nhà nước, thì không có bóng người nào ở đó. Trong khi rạp hát bán vé thì người dân đi đông nghịt. Hay cảnh một nhóm người kiếm chuyện với Linh Phụng nói giọng miền ngoài…

Nhìn chung, do đây là một bộ phim lấy cảm hứng từ Sài Gòn sau giải phóng, có người sẽ đón nhận, có người ghét bỏ một thể chế mới, âu cũng là chuyện thường tình. Nếu không có yếu tố thiên vị đó, phim đã không “thật”.

Và điều thứ sáu – điều cuối cùng – chính là cải lương. Yếu tố cải lương trong phim không nắm vai trò chủ đạo, cần tập trung. Tuy nhiên, đây lại là chất kết dính đặc biệt, liên kết tất cả những con người và tâm hồn của họ, với nhau. Có thể nói, sau khi xem xong bộ phim này, nhiều bạn trẻ sẽ tự động tìm hiểu và yêu cải lương hơn, vì đơn giản, họ đã hiểu mục đích tồn tại của loại hình nghệ thuật này là gì.

Cải lương – tấm gương phản ánh nỗi sầu nhân thế

Tạm kết

Nhìn chung, MOINK20 tui không phải là một nhà phê bình điện ảnh. Với tui, Song Lang hay, đơn giản chỉ vì nó đã phản ánh một cách chân thực nỗi buồn và số phận của con người trong một thời đại nhiều rối ren, biến loạn. Cùng với Mùa len trâu, Cánh đồng bất tận, hay Đập cánh giữa không trung ngày trước, Song lang đã trở thành bộ phim mà tui tâm đắc.

Khanh Tr.