Viết cho Tết Kỷ Hợi 2019
Nhiều người hỏi tui: Xa quê, nhớ nhất điều gì?
Tui trả lời: nhớ đồ ăn Việt Nam.
Người ta chưng hửng, hỏi sao không nhớ ba mẹ, bạn bè, người yêu…mà lại là đồ ăn?
Đơn giản là vì, gia đình, người yêu, hay bạn bè, đều quan trọng, nên không thể dành phần “nhớ nhất” cho bên nào được. Vả lại, những kỉ niệm này phần lớn đều làm cho tâm trạng của tui tốt hơn.
Còn đồ ăn, mỗi lần nhớ là nhớ hết. Nhớ hết thì sẽ thèm. Và thèm thì sẽ đói. Mà cái đói thì rất là dai dẳng. Nên thường thường tui không thể ngừng nhớ tới đồ ăn Việt Nam.
Những món ăn mà tui đề cập hôm nay đều là trải nghiệm đặc biệt hồi tui ở Huế. Đặc biệt vì hương vị, vì nơi chốn, và vì ti tỉ thứ khác.
#1: Bún bò Huế – kiểu Huế – của người Huế – ở Huế
Mưa phùn. Cái kiểu trời mà ngồi trong nhà không thấy mưa, nhưng ra ngoài một chút là ướt nhẹp. Chỗ tui ở sát cửa Thượng Tứ, nên có thể vừa trông thấy cổng kinh thành bên phải, vừa thấy tiểu đình Thương Bạc bên sông Hương.
Thời tiết ẩm ương, thêm gần hai tiếng bay dễ làm con người ta đói bụng. Thế là tụi tui quyết định đi ăn, chọn điểm đến gần nhất – chính là bún bò mụ Tuyết.

Là dân Sài Gòn gốc Huế, tui có thể nói là đã ăn hết mọi thức “đồ Huế” ở nhà. Tui thích bún bò Huế nhứt hạng. Cọng bún dày, ăn với thịt bò, giò heo, chả cây, cho thêm muỗng sa tế, chấm nước mắm ớt là ấm bụng cả một buổi sáng. Thích thôi là thích.
Rồi lên học năm nhứt, có thằng bạn người Huế “trăm phần trăm”. Bữa nọ rủ nó đi ăn bún bò Huế gần trường, ngạc nhiên thấy nó lắc đầu quầy quậy:
– Tau không đi mô mi ơi. Ở trong ni người ta nấu bún bò kiểu chi dị lắm. Nói chung là không giống bún bò ngoài nớ chi cả.
Chỉ một câu nói, nhưng bạn làm tui tò mò rất lâu: bún bò Huế ở đây với “ngoài nớ” khác nhau chi cà?
Tui đã thắc mắc hơn một năm, cho tới ngày tận miệng nếm thử bún bò chỗ mụ Tuyết.

Cọng bún ở Huế nhỏ hơn, không bự như trong Sài Gòn.
Không có khái niệm “giò heo”, mà thay bằng một tảng thịt ba rọi mềm thơm ngon.
Ở Huế người ta cho cục huyết vào tô, và chả cũng có mùi vị khác lạ.
Tất cả những điểm khác biệt trên, tựu chung, chỉ làm bún bò Huế thêm đặc sắc, khó cưỡng. Lặt vài cọng rau thơm, cho thêm tí mắm ruốc, sa tế, và bạn sẽ được thưởng thức những gì tinh túy nhất mà nền ẩm thực hàng trăm năm của cố đô đang nắm giữ. Từng muỗng nước dùng được nêm nếm đậm đà, mùi ruốc hơi hăng đặc trưng, thịt vừa chín tới sừn sựt, sẽ thật khó để bạn có thể từ chối tô bún bò Huế có giá chỉ 30,000VND này.
#2: Vừa ngọt vừa mặn
Đêm đến, nhịp sống ở Huế chảy theo hai hướng rõ rệt.
Một hướng trẻ hơn, náo nhiệt, đầy ánh sáng, với các beer club, nhà hàng. Đó là khu phố Tây Chu Văn An- Phạm Ngũ Lão – Võ Thị Sáu.
Hướng còn lại, chảy bên kia sông Hương, là hướng của thành nội, của những hoài niệm quá khứ. Ở đây vắng vẻ hơn, tĩnh mịch hơn, và cũng đượm buồn hơn.
Một tối nọ, tui đi ăn ở quầy chè gần cửa Thượng Tứ.

Trong số các món quen thuộc như chè ba màu, chè bưởi…tui chợt thấy một cái tên lạ:
Chè bột lọc heo quay.

Và theo đúng nghĩa đen, đây là chè ngọt, nhưng “topping” lại là những viên bột lọc heo quay. Mặc cho sự kết hợp có vẻ kì cục này, chè bột lọc heo quay khá ngon, khi mà vị ngọt của nước chè hòa cùng heo quay mặn và bột lọc dẻo. Nếu có cơ hội đến Huế, bạn có thể tìm ăn thử món chè độc đáo này.
#3: Bạn có khoái bánh Khoái?
Cạnh chỗ tụi tui ở, có quán bánh khoái Thượng Tứ.

Đó là lần đầu tui ăn thử bánh khoái. Và thật ra mà nói, tui không thực sự thích món này. Với hương vị na ná giống bánh xèo, tôm nhỏ không lột vỏ, ăn với vả sống, bánh khoái Thượng Tứ không để lại nhiều cảm tình trong tui như bánh khoái Hồng Mai.

Nhìn chung, nếu bạn thích bánh xèo, thì bánh khoái sẽ phù hợp với bạn. Lớp vỏ ngoài chiên xù, bên trong đùm giá, hẹ, thịt, tôm, bánh khoái khá hấp dẫn và dễ ăn.
Tuy nhiên, tui không khoái món này. Điều tui thực sự nhớ về bánh khoái, là buổi trưa hè tháng 8 đầy nắng ở một góc Kinh thành, nơi tui được cùng ăn trưa với người ông mà ba tui, dẫu đã 35 năm xa Huế, vẫn nhớ như in địa chỉ để đến thăm; người gọi bà nội tui là chị ruột và cả đời quan tâm tới bà; người ông thân yêu mà tui chưa từng biết, và sau hôm ấy sẽ chẳng thể nào quên. Dẫu biết thời gian rất tàn nhẫn, nhưng tui vẫn nuôi hy vọng sẽ được gặp lại ông vào một ngày đẹp trời tui về Huế.
#4: Có những cái tên chất chứa niềm thân thương
Trưa nắng đứng bóng. Chợ An Cựu lưa thưa người qua. Nắng tháng bảy oi ả làm người ta hiểu thế nào là mùa hè xứ thần kinh.
Nhiều hàng ăn trưa đương đông khách, nào là bèo-nậm-lọc-nem-chả-tré, bánh canh, thịt nướng…đầy hấp dẫn. Song, có một hàng khiến tụi tui không chút do dự, và quyết định dùng bữa ở đó.
Đó là cơm âm phủ.

Đã bao giờ một người Việt Nam tự hỏi: tại sao ngày nào mình cũng ăn cơm?
Tại sao mỗi lần nói tới ăn, người Việt hay thêm “cơm” vào một cách vô thức?
– Ăn cơm chưa? Cơm nước gì chưa?
– Nhà đang ăn cơm, vào ăn chung cho vui!
Nói một cách đơn giản: là người Việt, ắt hẳn chúng ta ai cũng từng ăn cơm – rất nhiều cơm, từ nhỏ đến lớn, đôi khi là suốt cả đời không biết ngán. Khi ta ăn cơm vào bụng, cơm cũng từ từ ăn vào tiềm thức của ta. Để đến mức, mỗi khi người Việt thấy cơm, người ta thấy luôn những bữa ăn có thịt cá, canh rau cùng gia đình, nhìn lại được tuổi thơ của mình những ngày xưa lắm, nếm lại được những dư vị quê nhà, nơi tâm hồn người ta đã từng rất đỗi bình yên.
Bữa cơm trưa ở hàng cơm âm phủ đã mang lại cảm giác như thế. Từng muỗng đầy cơm trắng ngần, vẽ thêm miếng cá kho, ăn xong thì chan một chén canh chua. Ngon đồ ăn thì một, mà no tấm lòng thì những mười.
#5: Trở lại Cồn Hến
40 năm trước, anh còn là một đứa nhóc bảy, tám tuổi, sống với mệ ở căn nhà nhỏ ven sông Bồ. Hai mệ cháu đùm bọc yêu thương nhau. Anh ngây thơ, anh yêu Huế như bao đứa trẻ khác yêu quê hương mình. Những lần hiếm hoi được bắt xe đò về thành phố, thể nào anh cũng lò dò qua Đập Đá tới thôn Vĩ, rồi sang Cồn Hến ăn tô cơm hến, lâu lâu được ly chè bắp. Anh còn nhớ, hồi đó cơm hến ngon lắm, ăn không sót con hến nào mà vẫn thòm thèm. Nhưng về đêm Cồn sẽ tối mịt, mà ăn hết tiền thế nào mệ cũng rầy. Nên thôi anh về, mà lòng thì cứ nhớ mấy con hến.
35 năm trước, anh cùng mệ rời làng, rời sông Bồ, rời Huế vào Nam. Anh xa Cồn Hến, và đó tưởng chừng như là những ngày buồn nhất. Vì anh biết, sẽ không tìm được một ai khác làm cơm hến ngon như người ở Cồn nữa.
Rồi anh lớn lên, đi học, đi làm, lập gia đình trong Nam. Khi có tiền rồi, anh muốn về thăm Huế, nhưng những câu chuyện muôn thuở về cơm áo gạo tiền, gia đình con cái cứ cuốn anh đi mãi. Có những lúc, anh tìm được một quán cơm hến trong thành phố. Vợ con khen ngon, anh thì chỉ cười trừ. Với anh, cơm hến có vị khang khác. Nó có mùi mặn đắng của khói bụi xe đò, mùi ngai ngái của các bãi hến, và mùi đồng nội từ cái Cồn xanh rì nơi thôn Vĩ. Đó là nơi duy nhất anh thấy cơm hến ngon, nơi tuổi thơ anh nằm lại mãi mãi.
35 năm sau, lần đầu tiên đứa con xa quê trở về Huế. Anh chạy xe qua cầu Cồn với tâm trạng bồi hồi. Mọi thứ dường như vẫn thế: ngôi miếu xưa, những rặng cây xanh rì đổ bóng kín mặt đường. Lần này về Cồn Hến, anh không còn phải bắt xe đò. Anh cũng không còn đi một mình, mà dắt theo con anh – là tui – về cùng tìm lại dư vị quê hương.
Rồi ngày hôm đó, tui đã hiểu anh hơn nhiều chút.


35 năm, thêm mươi phút đợi chờ. Rồi anh lại trở về ngày còn trẻ, còn háo hức chờ ăn. Tô cơm hến hôm nay vẫn như ngày trước, chỉ có điều ngon hơn và trọn vẹn hơn. Cho tí ruốc, tí sa tế, rồi và từng muỗng cơm thật khoan thai. Nào là đậu phộng, hành phi, ngò, giá, tép mỡ, tất cả hương vị chua, ngọt, cay hòa quyện cùng nhau như một bản đồng dao ngọt ngào, say đắm. Rồi những con hến trứ danh của Cồn thì vẫn xuất sắc như cả trăm năm nay nó đã từng. Hến nhỏ, vị thanh, ngon khó cưỡng. Ăn kèm với cơm là một bát nước hến chua ngọt, đảm bảo thực khách chỉ có thể tấm tắc khen.
35 năm sống ở nơi thành thị xô bồ với bao điều mới lạ, cám dỗ, giờ đây, tại một kiệt nhỏ bên lề đường Cồn Hến, anh lại trở thành cậu bé người Quảng Điền, say sưa và cơm hến như thời con trẻ. Ít bao giờ tui thấy anh rạng rỡ như ngày hôm đó.

Tui ngồi viết mấy dòng này trong cái lạnh ngót nghét -5 độ của Phần Lan – bạn biết mà, những tháng đầu năm luôn là thời điểm khắc nghiệt nhất, nhưng cũng là đẹp nhất. Nắng đã tỏa ánh vàng ươm trên tuyết trắng – dẫu chỉ vài tiếng trong ngày – nhưng cũng đủ để xua đi cái sự u ám của những tháng cuối năm, khi mà trời hồ như rặt một tông xám xịt.
Chưa đầy hai ngày nữa là tới Tết.
Cái Tết đầu tiên tui không phải è cổ chùi bụi mấy chai rượu để trên tủ sách.
Tết đầu tiên tui không phải dọn một-cái-gì-cả.
Tết đầu tiên tui không được chở bà ngoại đi chùa đêm Giao thừa.
Và là Tết đầu tiên phải “điểm danh” từ xa, vào ngày mùng Một, khi mọi người trong đại gia đình đều xúng xính cùng nhau vui Xuân.
Tất nhiên là tui sẽ không khóc lóc đòi về hay buồn tủi gì cả, nhưng quả thật, chỉ đến khi đi xa nhà ngày Tết, trở thành một “người ngoài”, tui mới thấm thía được hết ý nghĩa của Tết đối với người Việt.
Thật sự, người Việt dù có quan điểm sống như thế nào, dù có đang ở đâu, làm gì, cũng đều dành một phần trong trái tim mình hướng về quê nhà, những ngày cuối năm Âm lịch. Đó là nơi có gia đình, có những người mình yêu quí, có đồ ăn ngon và nhiều điều đặc biệt. Và có thể nói, sẽ không có một dân tộc nào trên thế giới này có thể cảm được hết cái tinh thần Tết như người Việt. Đó là điều làm tui cảm thấy may mắn và tự hào khi bản thân là một người Việt Nam, có cơ hội được tận hưởng những mùa Tết trọn vẹn trong suốt cuộc đời.
Bài viết hôm nay, tui viết đơn giản để cho thỏa nỗi nhớ những dư vị quê hương. Vào thời khắc chuyển giao năm cũ và năm mới, tui hy vọng, tất cả những người tui yêu quí, và cả những người tui chưa có cơ hội làm quen, sẽ có một cái Tết sum vầy, hạnh phúc, và một năm mới thành công.
Lappeenranta, Finland 02/2019,
Khanh Tr.
