Nếu những gì mà Blackswan (2010) đã làm là lột tả mặt tiêu cực của một niềm đam mê bị biến tướng, thì Whiplash còn làm được nhiều hơn thế.

*Bài viết có tiết lộ nội dung phim

Một buổi tối xấu trời, tui lướt list 250 phim có rating cao nhất của imdb và chọn Whiplash (2014) do có…thời lượng phù hợp (khoảng 102 phút), vừa vặn giờ ngủ tối.

Tuy nhiên, sau khi bộ phim khép lại, có rất nhiều điều về nó làm tui cảm thấy thích thú, suy ngẫm.

Đầu tiên, phải kể đến nhà biên kịch tài năng Damien Chazelle và cái duyên của anh với nhạc Jazz.

Người đứng sau thành công của Whiplash và La La Land – Damien Chazelle

Nếu như ở Việt Nam, nghệ thuật đờn ca tài tử được cho là đã thoái trào, thì điều tương tự cũng đang xảy đến với Jazz cổ điển tại Hoa Kì. Vì nhiều lí do, có thể do thị hiếu con người dần thay đổi, nhiều thể loại nhạc mới với những chiến lược quảng bá hiệu quả. Hay, dưới con mắt của “ông trùm nhạc viện Shaffer” Terence Fletcher, là do thời đại này không còn sản sinh một nghệ sĩ Jazz xuất sắc nào nữa.

Tuy vậy, dưới bàn tay nhào nặn của mình, Chazelle đã thổi hồn Jazz vào những bộ phim làm nên tên tuổi của anh, hướng mắt công chúng về những con người hiện đại, vẫn ngày đêm đau đáu tìm cách làm hồi sinh dòng nhạc cổ điển bằng tài năng và tình yêu của mình. Ở La La Land là Sebastian, còn trong Whiplash là thầy trò Fletcher-Neiman. Qua đó, Jazz chưa bao giờ và sẽ không bao giờ chết; nó chỉ đang ẩn mình chờ một ngày đường hoàng trở lại.

Ngoài ra, bộ phim còn mang tính giới thiệu. Nếu như sau Bohemian Rhapsody (2018), tên tuổi của Queen và những hit đình đám những năm 70 được khán giả nô nức tìm lại, thì Whiplash đã “rọi đèn” đến những Buddy Rich, Charlie Parker, Jo Jones…những nghệ sĩ thành danh với lĩnh vực Jazz thập niên 40-50 mà không còn nhiều khán giả đại chúng nhớ đến.

Bản The Bird kinh điển của Charlie Parker

Điều thứ hai làm tui tâm đắc ở Whiplash là ở tư tưởng: niềm đam mê nào cũng đáng tự hào.

Ở một thời đại mới với nhiều định hướng mới, việc “bơi ngược dòng” và đặt trái tim vào những giá trị cổ điển thường bị xem là gàn dở, nhàm chán. Tuy nhiên, ai xem niềm đam mê của bạn là gì đi nữa thì mặc họ. Hãy cứ phấn đấu vì điều đó, và tới một ngày cảm thấy tự hào về bản thân mình.

Con thà sống một cuộc đời nghiện ngập và chết ở tuổi 34 nhưng vẫn được người đời nhớ tới, hơn là sống phây phây tới 90 tuổi mà chẳng ai biết con là ai – Andrew Neiman

Điều thứ ba, là mặt trái khi đam mê nuốt chửng tâm hồn bạn.

Cũng như trong Blackswan, tài năng trẻ Andrew Neiman đã đặt đam mê của mình lên trên hết. Anh gần như không có bạn bè, sống cô độc với bộ trống và những băng nhạc của Buddy Rich. Đam mê dần tạo ra những nỗi đau về mặt thể xác, nhưng tệ hơn, là làm gia tăng những cảm xúc tiêu cực vốn đã tồn tại trong tâm hồn Neiman:

Anh gia tăng chứng bất an, sợ sệt mỗi khi tập với ban nhạc The Studio.

Anh tự mãn khi cho rằng mình không thể bị thay thế.

Anh đố kị ra mặt khi có người khác lăm le chiếm vị trí của mình.

Anh xem thường bất kì ai không có cùng đam mê với mình.

Anh trở nên thiếu kiềm chế, bạo lực hơn khi không được như ý muốn.

Có thể với nhiều người, đây là cái giá phải trả để trở thành một huyền thoại: hy sinh cuộc đời riêng để tạo nên những điều phi thường. Tuy nhiên, có người lại cho rằng, đây chỉ là một sự ám ảnh, tự hành hạ không hơn không kém. Tính đúng sai, âu cũng tùy vào tư tưởng của mỗi người xem.

Khi đam mê buộc ta phải đánh đổi nhiều hơn cả máu và nước mắt, liệu đó có còn là đam mê?

Điều thứ tư, là mối quan hệ thầy-trò, cũng như tư tưởng của Terence Fletcher.

Trong 5 phút đầu tiên của phim, màn đối thoại giữa hai nhân vật duy nhất trong khung hình, báo hiệu một mối lương duyên mang tính định hình cả bộ phim, chính là giữa Fletcher và Neiman.

Đôi nét về Fletcher: Ông là giáo sư, là nhạc trưởng ban nhạc Studio của trường nghệ thuật Shaffer – ngôi trường danh giá nhất New York. Ông là người tài năng, chuyên nghiệp, cầu toàn, và rất tàn bạo. Mỗi lần ông quát mắng, học viên có cứng cựa cỡ nào thì cũng chỉ dám khóc không thành tiếng.

Số phận đã đưa đẩy để Neiman được ông thầy chọn và chơi trống trong ban nhạc Studio. Những tưởng, mối quan hệ thầy-trò này, tuy nghiêm khắc, nhưng sẽ khắng khít như Mike Tyson và Cus D’amato. Thế nhưng điều này đã không hề xảy ra.

Sự tàn nhẫn của Fletcher đối với Neiman vượt xa mọi tưởng tượng của tui khi xem phim

Nói nghiêm khắc là còn nhẹ. Nói chà đạp là vẫn còn nương. Dường như, Fletcher muốn vùi dập cậu học trò tài năng này xuống tận bùn đen rồi sung sướng chờ cậu ta ngoi lên, cốt để dúi đầu cậu xuống thêm lần nữa. Có những lúc, Neiman trở nên điên loạn, mất kiểm soát, thậm chí suýt mất mạng. Nhưng sau cùng, cậu vẫn ngoi dậy, “trả miếng” ông thầy bằng tài năng đang ngày một hoàn thiện của mình.

Giữa họ không hề có tình cảm thông thường. Tất cả những gì ta thấy là một trận đôi co giữa những niềm kiêu hãnh, giữa hai cái tôi cao ngút đầy tự tin. Và ở cuối phim, có vẻ như cả hai đều đã tìm được điều mình hằng mong đợi. Họ là kẻ thù mà không phải kẻ thù – một dạng quan hệ rất tinh tế mà tui đã từng thấy giữa cậu bé Pi và con cọp Richard Parker trong Life of Pi (2013).

Nhưng nói đi cũng phải nói lại, tại sao Fletcher lại tàn nhẫn với Neiman, hay nói đúng hơn, là với tất cả các học viên ông từng có? Thậm chí một số học viên đã bị sang chấn tâm lí, đơn cử là vụ tự sát của cựu sinh viên Sean Casey?

Góc nhìn của ông đã được thể hiện rõ nhất qua câu nói:

Không có hai từ nào trong tiếng Anh tai hại hơn “Goodjob – làm tốt lắm”

Với ông, thành tựu chỉ có thể đạt được bằng sự kiên trì, phấn đấu đến cực hạn. Fletcher thường nhắc đến bài học để đời của huyền thoại Charlie Parker – người bị Jo Jones ném chũm chọe vào đầu vì chơi chểnh mảng, rồi sau đó khổ luyện để trở thành huyền thoại nhạc Jazz – để làm kim chỉ nam cho hành động của mình.

Fletcher không chấp nhận những kết quả tầm trung, thậm chí khá tốt. Vì việc chấp nhận đồng nghĩa với dễ dãi, ban ơn. Với Fletcher, xã hội ngày nay đang trở nên quá mềm mỏng, kiêng nể – điều đang dần giết chết những viên ngọc quí vốn chỉ có thể tỏa sáng qua một hành trình mài dũa khắc nghiệt. “Thương cho roi cho vọt”, và ông đã giữ vững lập trường của mình, những mong mỏi sẽ tìm được những Buddy Rich, Charlie Parker thứ hai.

“Tôi đã cố gắng. Như vậy còn tốt hơn cả vạn người khác”

Những người tâm huyết như Fletcher xưa nay hiếm. Tuy nhiên, những điều ông làm cũng chưa hẳn đã hay. Vì không phải ai cũng có cùng một mục tiêu và ý chí như ông kì vọng. Và việc làm tổn hại tinh thần nhiều học viên cũng đã góp phần chỉ ra mặt tối trong niềm đam mê của Fletcher, khi ông vô tình làm hại người khác vì tham vọng của mình.

Ranh giới giữa sự vĩ đại và xấu xa vốn rất mong manh, phụ thuộc vào hệ quy chiếu đạo đức của mỗi người. Có thể, Fletcher là tội đồ của hằng sa số học viên có cảm tình với âm nhạc nhưng bị ông vùi dập phũ phàng. Cũng rất có thể, nhờ “roi vọt” của Fletcher, một số học viên sẽ dần tôi luyện và đạt được cảnh giới cao nhất trong âm nhạc – điều mà họ không thể tìm thấy ở một phương pháp khác, hay một ông thầy khác. Đơn cử là cậu bé Neiman 19 tuổi.

“Có khi nào thầy đã vùi dập mất một Charlie Parker thứ hai không?” – “Không thể nào, vì Charlie Parker sẽ không bao giờ bỏ cuộc”

Tạm kết

Với cá nhân tui, Whiplash không chỉ là một bộ phim về nhạc Jazz và những giá trị vượt thời gian của nó, mà còn bàn về triết lí sống. Không có gì trên đời là hoàn hảo; tiệm cận hoàn hảo là điều đáng để ta nhắm tới.

Khanh Tr.