Khoảng một năm trở lại đây, giới đầu tư chứng khoán ở Việt Nam bắt đầu thảo luận nhiều hơn về triển vọng thăng hạng thị trường chứng khoán của Việt Nam từ mức hiện tại là Cận biên (Frontier) lên thị trường Mới nổi (Emerging Market). Vậy, những khái niệm này có ý nghĩa như thế nào, và Việt Nam cần thay đổi gì để được thăng hạng?
* Nếu bạn có nhu cầu tìm hiểu thêm về tài chính, tìm hiểu thêm ở đây.
Chuyện gì đã xảy ra?
Ngày 24/06/2022, Morgan Stanley Capital International (MSCI) – một trong những tổ chức xếp hạng thị trường uy tín và có tầm ảnh hưởng nhất thế giới – công bố danh sách đánh giá và theo dõi thường niên của họ đối với các thị trường chứng khoán thế giới. Và một lần nữa, Việt Nam không có tên trong danh sách theo dõi thăng hạng.

Ít nhất cho tới hè 2023, ttck Việt Nam vẫn sẽ là thị trường cận biên (Frontier Market).
Đây là một kết quả tuy có gây tiếc nuối nhưng không bất ngờ với giới đầu tư, vì ai cũng hiểu rõ rằng Việt Nam vẫn còn thiếu nhiều yếu tố quan trọng để được các tổ chức nghiên cứu lớn cân nhắc thăng hạng. Vậy, đó là những yếu tố gì?
Khái niệm về phân hạng thị trường
Có một cách ví von khá hay mà tui xin được trích dẫn từ các chuyên gia của kênh “Tài chính – Kinh doanh” về phân hạng thị trường: Hãy tưởng thị trường chứng khoán các nước như các giải bóng đá ở Anh:
Những đội bóng mạnh nhất, tài chính vững vàng nhất, sở hữu những cầu thủ chất lượng nhất, sẽ thi đấu ở giải đấu cao nhất – giải Ngoại Hạng Anh.
Những đội bóng yếu hơn, có tài chính lung lay hơn, sẽ thi đấu ở giải thấp hơn – giải hạng Nhất. Tương tự với giải hạng Nhì, hạng Ba vv…
Trong thế giới đầu tư cũng vậy. Hiện nay, MSCI phân hạng thị trường chính khoán thế giới thành ba rank chính:
- Thị trường phát triển (Developed Market): Dành cho những nước có nền kinh tế phát triển hàng đầu, cơ chế tài chính phát triển cao, nguồn vốn lớn, và có độ quản trị + minh bạch ở mức tối đa. Tiêu biểu của rank này phải kể đến Mỹ, Canada, các nước châu Âu, Nhật Bản, Singapore, Úc, vv…
- Thị trường mới nổi (Emerging Market): Như Brazil, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan, Ả Rập Saudi…
- Thị trường cận biên (Frontier Market): Như Estonia, Kenya, Bangladesh, Việt Nam…
Mỗi năm, MSCI và các định chế tài chính lớn sẽ tiến hành khảo sát và nghiên cứu độc lập (nghĩa là không dựa vào số liệu sổ sách được các nước cung cấp) để xác định tình hình thị trường và tái phân hạng. Nghĩa là, nếu năm nay một nước đang được đánh giá là Emerging market, nhưng tình hình kinh tế chuyển biến tiêu cực, thì hoàn toàn có thể rớt hạng xuống Frontier market.

Các tiêu chí xếp hạng chính của MSCI
Việc đặt ra những tiêu chí cụ thể như thế này nhằm mục đích bảo vệ tài sản của nhà đầu tư và vốn đầu tư chính phủ, khi đi đầu tư ở nước ngoài. Không phải chính phủ nào cũng minh bạch trong việc cung cấp thông tin, không phải doanh nghiệp nào cũng sản sinh lợi nhuận tốt. Hiểu nôm na, khung phân hạng thị trường giống như food review, để thực khách đọc trước khi chọn đi ăn ở nhà hàng nào.
Triển vọng
Việt Nam chính thức mở thị trường chứng khoán vào thời gian 1998-2000, và xuyên suốt từ đó tới nay, Việt Nam vẫn nằm ở nhóm thị trường Cận biên. Tất nhiên, đây không phải lần đầu tiên dư luận đặt kỳ vọng về sự thăng hạng của Việt Nam lên thị trường mới nổi. Năm 2018, FTSE (một tổ chức đánh giá lớn khác bên cạnh MSCI) đã đưa Việt Năm vào danh sách theo dõi thăng hạng thành thị trường mới nổi loại 2, nhưng bất thành. Thời gian gần đây, dưới tác động của dịch bệnh, người dân có thời gian tìm hiểu và chứng kiến tiềm năng tăng trưởng lớn của chứng khoán, nên lượng người tham gia vào ttck Việt Nam đã tăng kỷ lục. Đi kèm với lượng của cải khổng lồ của xã hội được tái đầu tư vào thị trường là sự băn khoăn về triển vọng thăng hạng của thị trường nước nhà – đang được đánh giá là có quy mô của Emerging nhưng vẫn bị kẹt ở mức độ Frontier. Bên cạnh đó, có một sự thật mà ai cũng hiểu, rằng sự thăng hạng sẽ đi kèm với sự bùng nổ của ttck trong tương lai. Khi các trở ngại và rủi ro được xử lý tốt, khi các nhà đầu tư cảm thấy được bảo vệ bởi sự minh bạch và uy tín của nhà nước Việt Nam, cũng như dự tín nhiệm của các định chế đánh giá, thì dòng tiền đầu tư vào Việt Nam sẽ có quy mô lớn hơn rất nhiều so với trước đây, nghĩa là lợi nhuận tiềm năng và tăng trưởng tiềm năng là vô cùng to lớn. Chính vì lẽ đó, ngày càng nhiều câu hỏi được đặt ra cho những nỗ lực của Việt Nam để được đánh giá thăng hạng.
Những điểm sáng của Việt Nam
Dù có tiến độ chậm, nhưng không thể phủ nhận rằng chính phủ Việt Nam đã và đang nỗ lực cải thiện nề kinh tế nước nhà để có thể đáp ứng các tiêu chí của thế giới, nhất là trong giai đoạn đại dịch, đứt gãy chuỗi cung ứng, và rủi ro xuất nhập khẩu tăng cao như hiện nay. Nhận định trên của được đưa ra dựa trên số liệu thực tế được ghi nhận bởi các tổ chức nghiên cứu hàng đầu như FitchRating, SPGlobal, MSCI, FTSE.

Việt Nam được dự đoán có tỷ lệ tăng trưởng GDP thực tế (Real GDP Growth %) trong năm 2022 và 2023 lần lượt là 6.1% và 6.3% – cao hơn các khu vực kinh tế phát triển như Mĩ, Trung Quốc, hay châu Âu. Tỷ lệ thất nghiệp cũng được duy trì ở mức độ ổn định, cộng với chỉ số tiêu dùng CPI tiếp tục được kiểm soát dưới 5%, bất chấp tình hình kinh tế không khả quan, vật giá leo thang trên toàn thế giới. Sắp tới, chính phủ cũng sẽ có những biện pháp cắt giảm thuế xăng dầu để bình ổn giá xăng, kéo chậm đà lạm phát ở Việt Nam. Chiến tranh Nga-Ukraine cũng được đánh giá là không có quá nhiều tác động trực tiếp đến Việt Nam, do tỷ trọng xuất khẩu và lợi ích thương mại khác của Việt Nam vào hai nước này là không đáng kể.

Về nợ công và tín dụng nhà nước, Việt Nam cũng duy trì tỉ lệ nợ ở mức bình ổn, và chính phủ Việt Nam cũng đã bước đầu đáp ứng được yêu cầu về khả năng trả nợ công đúng hạn. Ở khía cạnh khác, việc chính phủ có kế hoạch giảm thu nhập công (thông qua việc giảm thuế VAT) + tung ra gói kích thích kinh tế trị giá 350 nghìn tỷ VND sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách kéo dài, nhưng FitchRating vẫn lạc quan rằng tỷ lệ nợ/gdp sẽ ổn định dưới mức “BB” của họ trong thời gian tới.
Thách thức
Bên cạnh những điểm sáng triển vọng, thị trường Việt Nam còn tồn tại nhiều thách thức lớn với tiềm năng thăng hạng thành thị trường mới nổi. Tổng hợp lại thì có các nguyên nhân sau:

Về kinh tế vĩ mô: Ngành Ngân hàng ở Việt Nam bị kiểm soát chặt bởi chính phủ, dẫn tới rủi ro lớn về nợ xấu, tài sản đảm bảo kém chất lượng, cũng như sự thiếu minh bạch trong báo cáo và giao dịch. Bên cạnh đó, tỉ lệ thu nhập chính phủ đóng góp vào GDP cả nước là khá thấp so với các nước đồng hạng.
Về việc mở tài khoản đầu tư: Ở Việt Nam, việc mở tài khoản đầu tư còn hạn chế, khi đơn đăng ký phải được sự chấp thuận của Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam (VSD).
Về sự hạn chế với nhà đầu tư nước ngoài: Với nhiều nhà đầu tư nước ngoài, đầu tư vào Việt Nam vẫn còn rất kém hấp dẫn, khi luôn có những rào cản lớn với họ, khiến họ gặp nhiều thiệt thòi so với nhà đầu tư trong nước, ví dụ như:
-
Theo Luật Đầu tư năm 2020, trong danh mục vẫn có tới 227 ngành, nghề hạn chế tiếp cận kinh doanh với nhà đầu tư nước ngoài (Đã bớt hạn chế 40 ngành so với trước đây). Điển hình một số lĩnh vực quan trọng vẫn nằm trong danh mục này như: kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh khí, kinh doanh xăng dầu, kinh doanh vận tải đường bộ và đường thủy, kinh doanh vận tải biển, kinh doanh bưu chính, viễn thông, hoạt động kinh doanh ngân hàng thương mại…(Trích dẫn từ tinnhanhchungkhoan)
- Các hình thức cản trở nhà đầu tư ngoại cũng rất đa dạng, từ cấm hẳn, đến việc dùng “room ngoại”, nghĩa là ndt chỉ được mua một lượng cổ phiếu nhất định. Và room ngoại thì thường xuyên trong trạng thái “hết chỗ”. 1% các công ty trong danh mục MSCI Vietnam IMI bị ảnh hưởng bởi chính sách room ngoại này.
Về sự hạn chế thông tin bằng tiếng Anh: Rất nhiều dữ liệu, báo cáo chính phủ, báo cáo tài chính của các tập đoàn lớn ở Việt Nam hiện nay vẫn không có phiên bản song ngữ Anh – Việt, là trở ngại thoặt nghe thì đơn giản nhưng thực tế rất ảnh hưởng đến triển vọng thăng hạng, vì các tổ chức đánh giá cần báo cáo tiếng Anh của doanh nghiệp và nhà nước.
Về sự thiếu tự do của thị trường Ngoại hối (Forex): ở Việt Nam không có thị trường giao dịch ngoại hối (đây là lý do tại sao các sàn forex mở ở Việt Nam đều không hợp pháp và không do nhà nước quản lý). Các giao dịch ngoại hối (chuyển tiền VND ra khỏi Việt Nam) đều bị hạn chế và chịu sự kiểm soát của nhà nước.
Về thanh toán bù trừ và lưu ký: Ví dụ đơn giản: Ở nước ngoài, khi bạn mua cổ phiếu, sẽ mất vài ngày để tiền của bạn đến tay công ty chứng khoán và công ty bạn đầu tư. Để tránh việc giá cổ phiếu bị lũng đoạn làm mất tiền của nhà đầu trong quá trình này, công ty chứng khoán sẽ ứng tiền trước (bằng với số tiền bạn đầu tư) để mua ngay và gửi cổ phiếu đến ngay cho bạn trong ngày – đây gọi là giao dịch T+0, khi công ty chứng khoán có thể ứng tiền trước để tối thiểu hóa thời gian nhà đầu tư phải chờ đợi. Ở Việt Nam vẫn đang là T+3, nghĩa là nhà đầu tư mua cổ phiếu vào thứ hai đầu tuần thì tới thứ năm giao dịch mới hoàn tất và cổ phiếu mới về tới tài khoản. Đây là thiệt thòi rất lớn cho nhà đầu tư vì trong ba ngày chờ đợi, những thành phần xấu có thể chèo lái giá cổ phiếu nhằm trục lợi.
Nhà đầu tư nên làm gì?
Phải rất thẳng thắn rằng, tui không kỳ vọng thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ thăng hạng thành Mới nổi trước năm 2025, thậm chí có thể trễ hơn, vì quyền quyết định thay đổi không nằm trong tay nhà đầu tư, cũng không nằm trong tay của các công ty chứng khoán, mà là của nhà nước và các bộ ngành kinh tế. Và hiện tại việc thăng hạng thị trường không phải là ưu tiên hàng đầu của chính phủ. Vì vậy, nếu bạn là một nhà đầu tư trong nước, hãy hiểu những điều sau: Bạn có lợi thế hơn nhà đầu tư nước ngoài rất nhiều ở thời điểm này. Hãy học hỏi, nghiên cứu công ty một cách nghiêm túc, và đầu tư với tâm thế dài hạn. Bằng cách này, bạn tránh được việc bị tổ lái thao túng trong ngắn hạn, tránh việc bỏ lỡ những cơ hội tốt, và có thể nhận được lợi nhuận lớn trong dài hạn, nếu một ngày kinh tế Việt Nam chính thức thăng hạng. Vì thăng hạng đi đôi với phát triển, với tiềm năng lớn.
Nguồn
- Những chia sẻ của Gs. Hồ Quốc Tuấn
- Kênh tài chính – kinh doanh
- Nghiên cứu Việt Nam của FitchRatings
- Nghiên cứu Việt Nam của SPGlobal
Khanh Tr.
